Tháng 12/2010

Tuần 4: Hân hoan và cảm tạ khi nh́n lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam: giai đoạn trưởng thành


 

 
 

NH̀N LẠI CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ GIÁO HỘI TRƯỞNG THÀNH TẠI VIỆT NAM

 

A. PHẦN TR̀NH BÀY

Việc thành lập hàng giáo phẩm địa phương, vốn là ước vọng của Thánh Bộ Truyền Giáo ngay từ bản huấn thị 1659, nhưng trong thực tế, phải đến thế kỷ XX mới thành sự thật. Năm 1846, Đức Piô IX đă đưa ra những chỉ thị rất cụ thể: “Phải hủy bỏ tập tục chỉ chấp nhận một hàng giáo sĩ bản xứ phụ thuộc. Những người làm việc Tin Mừng, dù thuộc xứ nào, đều b́nh đẳng”. Sau đó, Đức Lêô XIII đă đẩy công việc nhanh hơn bằng cách lập các Ṭa Khâm Sứ, trước tiên là tại Ấn Độ (1884) rồi đến Hoa Kỳ và Canada (1898). Đến thời Đức Piô XI, Việt Nam có Ṭa Khâm Sứ tại Huế năm 1925. Chính dưới thời Đức Piô XI, nhiều quốc gia thuộc miền truyền giáo có Giám mục: Ấn Độ (1923), Trung Hoa (1926), Nhật Bản (1927) và Việt Nam (1933). Đặc biệt kỳ đó, Ṭa Thánh không chỉ hỏi ư kiến các thừa sai, mà cả ư kiến các linh mục Việt Nam tại Sàig̣n năm 1925, và tại Huế 1930. Kể từ đây sinh hoạt của Giáo Hội Việt Nam linh động hẳn lên: đón nhận nhiều Ḍng Tu quốc tế, thành lập và cải tổ các Ḍng Tu trong nước, số linh mục Việt ngày càng đông đảo, số địa phận ngày càng gia tăng. Các địa phận mới được thiết lập là: Thái B́nh (1936), Vĩnh Long (1938), Cần Thơ (1955) và Nha Trang (1957).

1. Ngày lịch sử 24-11-1960

Qua Tông Hiến Venerabilium Nostrorum, ngày 24-11-1960, Đức Gioan XXIII đă thiết lập thêm ba địa phận mới là Đà Lạt, Mỹ Tho và Long Xuyên, tuyên bố thiết lập ba Giáo Tỉnh (Hà Nội, Huế, Sàig̣n) và bổ nhiệm các giám mục chính ṭa. Số giáo phận tại Việt Nam lúc này là 20, được phân chia như sau: Hà Nội 10, Huế 4 và Sàig̣n 6. Đứng đầu ba Giáo Tỉnh là ba Tổng Giám Mục Giuse Trịnh Như Khuê, Phêrô Ngô Đ́nh Thục và Phaolô Nguyễn văn B́nh. Chỉ trừ hai giáo phận Nha Trang (Đức Cha Piquet Lợi), và Kontum (Đức Cha Seitz Kim), 18 Giáo phận c̣n lại đều do các giám mục Việt Nam phụ trách. Việc thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam năm 1960 quả là một bước ngoặt đáng ghi nhớ. Hạt giống Tin Mừng đă được gieo trồng suốt bốn thế kỷ, nay đơm bông kết trái trong bối cảnh Công Đồng Vatican II đă đưa người người tín hữu Việt Nam vào trào lưu chung của Hội Thánh toàn cầu: trở về nguồn Tin Mừng và canh tân thích nghi với thời đại; cởi mở và đối thoại với mọi nền văn hóa, cùng chung âu lo và hy vọng với mọi người, để dấn thân phục vụ xă hội ngày càng đa dạng và phong phú hơn.

2. Nh́n lại một chặng đường ...

Sau 1960, năm địa phận khác được thành lập là Đà Nẵng (1963), Xuân Lộc (1966), Phú Cường (1966), Ban Mê Thuột (1967), Phan Thiết (1975), và Bà – Rịa (2005) nâng tổng số giáo phận Việt Nam hiện nay lên 26 địa phận (Hà Nội 10, Huế 6, Sàig̣n 10). Tính đến tháng 6-1992, Việt Nam đă có tất cả 67 giám mục (32 vị đă được Chúa gọi về). Từ năm 1975, trong bối cảnh đất nước thống nhất, Hội Thánh Việt Nam ở hai miền Nam Bắc được xum họp một nhà. Kể từ 1980, Đại hội các Giám mục toàn quốc đă được tiến hành hằng năm, và Hội Thánh Việt Nam khẳng định ư muốn là “Hội Thánh Chúa Giêsu Kitô trong ḷng dân tộc Việt Nam, để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” (X. Thư chung 1980).

Nh́n lại lịch sử hơn 400 năm, như Mẹ MARIA, người tín hữu Việt Nam cất cao lời ngợi khen và cảm tạ Thiên Chúa, v́ khi quay nh́n quá khứ với cặp mắt đức tin, ta nhận ra Chúa hằng hiện diện và đồng hành với Hội Thánh trong từng bước đi, dù khi thành công hay thất bại, dù lúc chan ḥa ánh sáng hay bóng tối đong đầy. Nh́n lại lịch sử hơn 400 năm, người tín hữu Việt Nam cũng ư thức rằng đức tin mà ḿnh lănh nhận, đă được gieo trồng và vun xới bằng mồ hôi và nước mắt; hơn nữa bằng cả máu đào của tiền nhân. V́ thế, phải hết sức trân trọng, ǵn giữ và phát huy đức tin ấy bằng cả cuộc đời. Hơn thế nữa, nếu đức tin là hồng ân đă lănh nhận xuyên qua gian khổ của tiền nhân, người tín hữu Việt Nam hôm nay phải tiếp tục công tŕnh của cha ông trong nỗ lực truyền giáo, để tinh thần Phúc Âm được thấm nhập vào mọi thực tại xă hội, và quê hương Việt Nam thân yêu được phát triển theo hướng đi của Nước Trời, Nước Công Chính, Yêu Thương và An B́nh. MARANATHA, Lạy Chúa GIÊSU, Xin Ngài đến! (Kh 22,20).

(Trích “Lược Sử Hội Thánh Công Giáo Tại Việt Nam” trong Giáo Lư Hội Thánh Công Giáo của HĐGMVN, trang 114-116)

B. PHẦN HỎI-ĐÁP

1- H. Đức Giám mục tiên khởi người Việt Nam là ai?

T. Đức Giám mục tiên khởi người Việt Nam là Đức cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Ṭng. Ngài được tấn phong Giám mục ngày 11.6.1933.

2- H. Hàng Giáo phẩm Việt Nam được thiết lập năm nào?

T. Ngày 24.11.1960, Đức Giáo Hoàng Gioan 23 đă thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam, đánh dấu sự trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam sau 4 thế kỷ đón nhận Tin Mừng.

3- H. Hiện nay Giáo Hội Việt Nam có bao nhiêu giáo phận?

T. Hiện nay Giáo Hội Việt Nam có 26 giáo phận, họp thành 3 giáo tỉnh là Hà Nội, Huế và Sài G̣n.

4- H. Sau ngày thống nhất đất nước, đường hướng mục vụ của Giáo Hội Việt Nam là ǵ?

T. Năm 1980, các giám mục trong cả nước đă nhóm họp và khẳng định ư muốn là “Hội Thánh Chúa Giêsu Kitô trong ḷng dân tộc Việt Nam, để phục vụ hạnh phúc của đồng bào.”

5- H. Để là “Hội Thánh Chúa Giêsu Kitô trong ḷng dân tộc Việt Nam,” Giáo Hội Việt Nam phải làm ǵ?

T. Giáo Hội Việt Nam phải hội nhập vào trong nền văn hóa Việt Nam và trở thành một Giáo Hội địa phương để có thể hoàn thành sứ vụ yêu thương và phục vụ của ḿnh.

C. PHẦN GỢI Ư TRAO ĐỔI

1. Cùng với Giáo Hội Việt Nam nh́n lại lịch sử hơn 400 năm, bạn cảm thấy thế nào? V́ sao?

2. Theo bạn, điều ǵ giúp Giáo Hội Việt Nam vượt qua những khó khăn và không ngừng phát triền?

3. Nh́n lại lịch sử, Giáo Hội Việt Nam học được những bài học ǵ cho đời sống cũng như sứ vụ của ḿnh?

 
                                                                                Nguồn: hdgmvietnam.org

KHAI MẠC NĂM THÁNH 2010
H̀NH ẢNH LỄ KHAI MẠC

LỜI CÁM ƠN CỦA ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC GIUSE NGÔ QUANG KIỆT
BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC CHA GIUSE NGUYỄN CHÍ LINH
DIỄN VĂN KHAI MẠC CỦA ĐỨC CHA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC V.N.